Cảm nghĩ về truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam

Cảm nghĩ về truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam
3.8/5 - (38 bình chọn)

Ngay từ những ngày đầu dù đất nước còn non trẻ, nghèo đói nhưng Bác Hồ đã xác định dốt là một loại giặc nguy hiểm cần được loại bỏ. Chính vì vậy truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam đã được xây dựng và phát triển mạnh mẽ từ nhiều đời nay. Thế hệ sau muốn tìm hiểu các tấm gương nổi bật trong truyền thống hiếu học của dân tộc ta có thể đến văn miếu Quốc tử giám – nơi nổi tiếng lưu giữ thông điệp xuyên thời gian của cha ông ta.

 1. Truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam

Truyền thống hiếu học là tư tưởng coi việc học như trách nhiệm hàng đầu, không ngừng tích lũy, học hỏi, vượt qua khó khăn để có được kiến thức, được áp dụng qua nhiều thế hệ. Điều này còn đề cao việc tự học: học kiến thức từ sách vở và từ đời sống theo nguyên tắc “học đi đôi với hành”.

Một người ham học sẽ luôn cố gắng áp dụng những lý thuyết mình đã học ở trường, ở sách vở vào trong thực tiễn cuộc sống hoặc sẵn sàng trải nghiệm điều mới để có thể học thêm kiến thức thực tế không có trong sách vở, từ đó rút ra bài học cho riêng mình.

Truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam ta được hình thành từ rất lâu đời. Từ xa xưa, học tập và tiếp thu kiến thức đã được khuyến khích ở trong các điều khoản của “lệ làng, phép nước”. Các vị vua thời bấy giờ đã ra những chính sách tuyển chọn và thi cử như Thi Hương, Thi Hội và Thi Đình rất khắt khe với mục đích tìm ra người học rộng, tài cao để đưa vào các vị trí quan trọng trong triều đình.

Người thi đỗ các kỳ thi tiến sĩ còn được khắc tên lên bia đá, để đời sau tưởng niệm, nhớ mãi. Đối với các khu vực nhỏ như làng, xã, việc ủng hộ tinh thần hiếu học thể hiện qua phong tục “rước trạng về làng”. Người thi đỗ đầu các khoa thi sẽ được làng, xã tổ chức đón rước về làng vinh quy bái tổ, vinh danh trạng nguyên trước nhân dân. “Lệ làng và phép nước” bổ sung cho nhau, cùng khuyến khích việc học và bồi đắp truyền thống hiếu học của nhân dân Việt Nam từ rất lâu về trước.

Từ xưa đến nay, Việt Nam có rất nhiều tấm gương hiếu học tiêu biểu:

– Mạc Đĩnh Chi – một người học trò nghèo, đã vượt qua gia cảnh khó khăn, ra sức học tập, đỗ đạt trở thành trạng nguyên, vang danh bốn bể.

Cảm nghĩ về truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam
Tấm gương hiếu học Mạc Đĩnh Chi được lưu truyền đến tận đời sau

– Nguyễn Trãi – người được UNESCO vinh danh là “Danh nhân thế giới”. Ông không chỉ là một nhà chính trị, công thần trong triều đình nhà Hậu Lê mà còn là một nhà văn đóng góp rất nhiều cho kho tàng văn học. Một trong những tuyệt tác của ông là “Bình Ngô Đại Cáo” được xem là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của nước ta.

2. Thế hệ trẻ tiếp nối truyền thống hiếu học

Tiếp nối truyền thống hiếu học của các thế hệ đi trước, người trẻ ngày nay năng động, ham học hỏi, chịu khó tiếp thu các kiến thức từ khắp mọi miền, mang danh tiếng một Việt Nam trí tuệ ra trường quốc tế. Minh chứng là nhiều người Việt đạt được các giải thưởng lớn về học thuật, văn hóa, cùng với các phát minh, sáng chế và công trình nghiên cứu được quốc tế công nhận và đánh giá cao. Cụ thể: đội tuyển toán Quốc tế của Việt Nam đã đạt được rất nhiều huy chương vàng trong các kỳ thi toán Olympic quốc tế (IMO); bộ Kit xét nghiệm COVID nhanh do Việt Nam sản xuất đã được WHO công nhận; cô giáo Hà Ánh Phượng – người được vinh danh trong danh sách 10 giáo viên toàn cầu – đã áp dụng những kiến thức mình tự học để tạo ra phương pháp dạy tiếng Anh mới mẻ cho các em vùng cao.

Cảm nghĩ về truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam
Người trẻ Việt tiếp nối truyền thống hiếu học rực rỡ

Không chỉ dừng lại ở việc kế thừa tinh thần hiếu học, thế hệ trẻ còn phát huy, làm rạng rỡ hơn nữa truyền thống đó. Trong thời đại hiện đại hóa với nhịp phát triển khoa học, kỹ thuật chóng mặt như hiện nay, việc nắm bắt công nghệ là chìa khóa để làm chủ cuộc sống và theo kịp bước chân toàn cầu. Truyền thống hiếu học đã tỏa sáng rực rỡ, đưa đất nước ta tiến lên mỗi ngày.

3. Khu di tích Văn miếu Quốc Tử giám và truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam

Khu di tích này gồm hai phần: một là Văn Miếu lập năm 1070 – là Miếu thờ Văn Tuyên Vương Khổng Tử (551 TCN – 479 TCN), ông tổ của đạo Nho và là triết gia cổ đại lỗi lạc. Bên cạnh đó, Văn Miếu thờ các bậc hiền triết của Nho giáo và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam. Phần thứ hai là Quốc Tử Giám (Giám có nghĩa là một cơ quan, Tử là học trò và Quốc là quốc gia), đây là trường học của hoàng gia, học trò đầu tiên chính là các hoàng tử nhà Lý sau đó từng bước dành cho con nhà quan lại và học trò giỏi con nhà thường dân trong cả nước, đặt nền móng mở đầu nền đại học của nước ta.

Dù đã qua rất nhiều năm nhưng những thông điệp xuyên thời gian mà cha ông ta gửi lại ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám vẫn còn nguyên giá trị, cả về giáo dục, đào tạo, trọng dụng trí thức và nghĩa vụ, trách nhiệm của trí thức đối với nhân dân, đối với đất nước.

Cảm nghĩ về truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam
Những thông điệp được khắc ghi trên bia đá

Truyền thống ấy được tiếp nối không ngừng. Ngay phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một trong những biện pháp cấp bách lúc bấy giờ là xóa nạn mù chữ. Bác viết: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch chống nạn mù chữ”. Và trong bức thư gửi học sinh cả nước nhân ngày khai trường tháng 9/1945, Bác nhấn mạnh: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

Từ quan điểm sáng suốt đó, dân trí được khai mở, công tác giáo dục, đào tạo được phát huy, xây dựng được đội ngũ trí thức góp phần quan trọng vào công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

Ngày nay, Đảng ta khẳng định, giáo dục và đào tạo là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đầu tư cho giáo dục được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội. Cuộc cách mạng 4.0 làm thay đổi về bản chất một số loại hình công việc, một phần lao động của con người được thay thế bằng tự động hóa, bằng trí tuệ nhân tạo đang đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là một nhu cầu và một thách thức lớn đối với Việt Nam, làm sao để có nguồn nhân lực chất lượng cao, giỏi chuyên môn, thích ứng với bước phát triển mới của khoa học và công nghệ, có đầy đủ tinh thần và ý thức trách nhiệm…

Nếu chúng ta tiếp thu và phát huy được tinh hoa mà cha ông để lại, có một nền giáo dục thực chất, vừa dân tộc, vừa hiện đại thì Việt Nam nhất định sẽ đến ngày “sánh vai cùng cường quốc năm châu” độc lập, tự chủ và giàu mạnh như Đại Việt xưa “cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương” như Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi đã khẳng định.

Trên đây, chuyên mục Học Tập đã giúp bạn đọc nêu cảm nghĩ về truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam sau khi tìm hiểu khu du tích Văn miếu Quốc Tử Giám. Theo dõi Gocdoday để biết thêm nhiều điều thú vị khác nhé.

Bài viết liên quan:

Xin chào, là mình đây!! Nếu bạn yêu thích dịch chuyển, khám phá những điều mới mẻ hay đơn giản hơn là những chiếc trend đang trôi nổi ngoài kia thì hãy theo dõi mình nhé!